Thau
đựng phân bón
Thau
đựng
thuốc trừ sâu
Thau
đựng
thuốc trừ sâu
Thau
nhựa
thau đựng phân bón
2T
thau đựng phân bón
2T2
thau đựng phân bón
2T4
Rổ thau đựng phân bón
đôi Y5002
Rổ thau đựng phân bón
đôi Y5003
thau đựng phân bón
20cm(C150)
thau đựng phân bón
22cm(C151)
thau đựng phân bón
24cm(C152)
thau đựng phân bón
30cm(C980408)
Đang
cập nhật..
T
thau đựng phân bón
32cm(C161)
thau đựng phân bón
35cm(C137)
Thau
nhựa
có lưới tắm BF-178
BF-178A - Thau
Nhựa
- Lưới Tắm Em Bé
phân bón là các hợp chất được cung cấp cho
thực vật để đẩy mạnh tăng trưởng. phân bón
bón thường được trộn vào đất để cây hấp
thụ bằng rễ, hoặc phun để cây hấp thụ
qua lá.
phân bón có thể
là
phân bón hữu cơ
(có thành phần là các chất hữu cơ), hoặc
phân bón vô cơ
(gồm các chất hóa học hoặc chất khoáng
vô cơ đơn giản). phân bón có thể được
tạo một cách tự nhiên như lá mục hoặc
khoáng chất có sẵn trong đất, hoặc được
sản xuất bằng các quy trình tự nhiên (chẳng
hạn ủ) hoặc hóa học (chẳng hạn
quy trình Haber)
phân bón đạm
phân bón đạm
là tên gọi chung của các loại phân bón
vô cơ cung cấp
đạm
cho cây.
Đạm là chất
dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan
trọng đối với cây. Đạm là nguyên tố tham
gia vào thành phần chính của
clorophin,
prôtit, các
axit amin,
các
enzym
và nhiều loại
vitamin trong
cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng
trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều
nhánh, phân bón cành, ra lá nhiều; lá cây có
kích thước to, màu xanh; lá
quang hợp
mạnh, do đó làm tăng năng suất cây.
phân bón đạm cần
cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng,
đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng
mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm
rất cần cho các loại cây ăn lá như rau
cải,
cải bắp,
v.v.
Có các loại
phân bón đạm thường dùng sau đây:
[sửa]
phân bón urê
phân bón urê (CO(NH4)2)
có 44–48%
nitơ
nguyên chất. Loại phân bón này chiếm 59%
tổng số các loại phân bón đạm được sản xuất
ở các nước trên thế giới. Urê là loại
phân bón có tỷ lệ nitơ cao nhất. Trên thị
trường có bán 2 loại phân bón urê có chất
lượng giống nhau:
- Loại tinh
thể màu trắng, hạt tròn, dễ tan trong
nước, có nhược điểm là hút ẩm mạnh.
- Loại có dạng
viên, nhỏ như trứng cá. Loại này có
thêm chất chống ẩm nên dễ bảo quản, dễ
vận chuyển nên được dùng nhiều trong
sản xuất nông nghiệp.
phân bón urê có khả
năng thích nghi rộng và có khả năng phát
huy tác dụng trên nhiều loại đất khác
nhau và đối với các loại cây trồng khác
nhau. phân bón này bón thích hợp trên đất
chua phèn.
phân bón urê được
dùng để bón thúc. Có thể pha loãng theo
nồng độ 0.5–1.5% để phun lên lá.
Trong
chăn nuôi,
urê được dùng trực tiếp bằng cách cho
thêm vào khẩu phần thức ăn cho lợn, trâu
bò. phân bón này cần được bảo quản kỹ trong
túi pôliêtilen và không được phơi ra
nắng. Bởi vì khi tiếp xúc với không khí
và ánh nắng urê rất dễ bị phân bón huỷ và
bay hơi. Các túi phân bón urê khi đã mở ra
cần được dùng hết ngay trong thời gian
ngắn.
Trong quá trình
sản xuất, urê thường liên kết các phần
tử với nhau tạo thành
biurat.
Đó là chất độc hại đối với cây trồng. Vì
vậy, trong phân bón urê không được có quá 3%
biurat đối với cây trồng cạn, 5% đối với
lúa nước.
[sửa]
phân bón amôn
nitrat
phân bón amôn
nitrat (NH4NO3) có
chứa 33–35% nitơ nguyên chất. Ở các nước
trên thế giới loại phân bón này chiếm 11%
tổng số phân bón đạm được sản xuất hàng năm.
phân bón này ở dưới
dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng
xám. Amôn nitrat dễ chảy nước, dễ tan
trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và
khó sử dụng. Là loại phân bón sinh lý chua.
Tuy vậy, đây là loại phân bón quý vì có
chứa cả NH4+ và cả NO3-,
phân bón này có thể bón cho nhiều loại cây
trồng trên nhiều loại đất khác nhau.
Amôn nitrat bón thích hợp cho nhiều loại
cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía,
ngô…
phân bón này được
dùng để pha thành dung dịch
dinh dưỡng
để tưới cây trong nhà kính và tưới bón
thúc cho nhiều loại
rau,
cây ăn quả.
[sửa]
phân bón sunphat
đạm
Còn gọi là phân bón
SA, sunphat đạm ((NH4)2SO4
có chứa 20–21% nitơ nguyên chất. Trong
phân bón này còn có 24-25% lưu huỳnh (S).
Trên thế giới loại phân bón này chiếm 8%
tổng lượng phân bón hoá học sản xuất hàng
năm. phân bón này có dạng tinh thể, mịn, màu
trắng ngà hoặc xám xanh. phân bón này có mùi
nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi
chua. Cho nên nhiều nơi gọi là phân bón muối
diêm.
Sunphat đạm là
loại phân bón tốt vì có cả N và lưu
huỳnh là hai chất dinh dưỡng thiết yếu
cho cây.
phân bón này dễ tan
trong nước, không vón cục. Thường ở
trạng thái tơi rời, dễ bảo quản, dễ sử
dụng. Tuy nhiên, nếu để trong môi trường
ẩm phân bón dễ vón cục, đóng lại thành từng
tảng rất khó đem bón cho cây.
Có thể đem bón
cho tất cả các loại cây trồng, trên
nhiều loại đất khác nhau, miễn là đất
không bị phèn, bị chua. Nếu đất chua cần
bón thêm
vôi,
lân mới dùng được đạm sunphat amôn. phân bón
này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi,
trên các loại đất bạc màu (thiếu S).
Đạm sunphat
được dùng chuyên để bón cho các loài cây
cần nhiều S và ít N như
đậu đỗ,
lạc
v.v. và các loại vây vừa cần nhiều S vừa
cần nhiều N như
ngô.
Cần lưu ý đạm
sunphat là loại phân bón có tác dụng nhanh,
rất chóng phát huy tác dụng đối với cây
trồng, cho nên thường được dùng để bón
thúc và bón thành nhiều lần để tránh mất
đạm.
Khi bón cho cây
con cần chú ý là phân bón này dễ gây cháy
lá.
Không nên sử dụng phân bón đạm sunphat để
bón trên
đất phèn,
vì phân bón dễ làm chua thêm đất.
[sửa]
phân bón đạm
clorua
phân bón này (NH4Cl)
có chứa 24–25% nitơ nguyên chất. Đạm
clorua có dạng tinh thể mịn, màu trắng
hoặc vàng ngà. phân bón này dễ tan trong
nước, ít hút ẩm, không bị vón cục,
thường tơi rời nên dễ sử dụng. Là loại
phân bón sinh lý chua. Vì vậy, nên bón kết
hợp với lân và các loại phân bón khác.
Đạm clorua không nên dùng để bón cho
thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp
cải, vừng, v.v.
Ở các vùng khô
hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên
bón phân bón đạm clorua, vì ở những nơi này
trong đất có thể tích luỹ nhiều clo, dễ
làm cho cây bị ngộ độc.
[sửa]
phân bón Xianamit
canxi
phân bón này có
dạng bột không có tinh thể, màu xám tro
hoặc màu trắng, đốt không có mùi khai.
Xianamit canxi có chứa 20 – 21% N nguyên
chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than. Vì có
than cho nên phân bón có màu xám đen. Cũng
có loại phân bón tỷ lệ than thấp hoặc không
có than nên phân bón có màu trắng. Cần chú ý
chống ẩm cho phân bón khi bảo quản, bởi vì
nếu phân bón hút ẩm sẽ bị biến chất, hạt
phân bón phình to lên làm rách bao bì và làm
hỏng dụng cụ đựng. phân bón này dễ bốc bụi.
Khi bám vào da sẽ làm hỏng da, phân bón bay
vào mắt sẽ làm hỏng giác mạc mắt, vì vậy
khi sử dụng phân bón này phải rất cẩn thận.
phân bón này có phản ứng kiềm, bởi vậy có
thể khử được chua, dùng rất tốt ở các
loại đất chua. Xianamit canxi thường
được dùng để bón lót. Muốn dùng để bón
thúc phải đem ủ trước khi bón. Bởi vì
phân bón này khi phân bón giải tạo ra một số
chất độc có thể làm hỏng móng chân trâu
bò, hại da chân người nông dân. Thường
sau 7 – 10 ngày các chất độc mới hết.
Thưởng xianamit canxi được trộn ủ với
phân bón rác làm cho phân bón chóng hoai mục.
phân bón này không được dùng để phun lên lá
cây.
[sửa]
phân bón phôtphat
đạm (còn gọi là phốt phát amôn)
Là loại phân bón
vừa có đạm, vừa có lân. Trong phân bón có tỷ
lệ đạm là 10-18%, tỷ lệ lân là 44-50%.
Phôtphat đạm có dạng viên, màu xám tro
hoặc trắng,nói chung màu sắc tùy thuộc
vào nhà sản xuất và không ảnh hưởng tới
chất lượng. Trên thị trường hiện nay
đang lưu hành hai loại phân bón
ammonphot là DAP(18-46-0)và MAP(
10-50-0) phân bón dễ chảy nước. Vì vậy,
người ta thường sản xuất dưới dạng viên
và được đựng trong các bao nilông. phân bón
rất dễ tan trong nước và phát huy hiệu
quả nhanh. phân bón được dùng để bón lót,
bón thúc đều tốt. phân bón là loại dễ sử
dụng. phân bón DAP là loại phân bón trung tính
nên có thể sử dụng trên các loại đất
khác nhau, còn phân bón MAP là loại chua
sinh lý(pH: 4-4.5) nên không thích hợp
đối với các loại đất chua. phân bón có tỷ lệ
đạm hơi thấp so với lân, cho nên cần bón
phối hợp với các loại phân bón đạm khác,
nhất là khi bón cho các loại cây cần
nhiều đạm.
[sửa]
Những điều cần
chú ý khi sử dụng phân bón đạm
Ở nước ta có 3
loại phân bón đạm thường được dùng phổ biến
nhất, đó là: phân bón urê, phân bón amôn sunphat
và phân bón amôn phôtphat. Khi được sử dụng
hợp lý, 1 kg N nguyên chất có thể thu
được 10 – 22 kg thóc hoặc 25 – 35 kg ngô
hạt. Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các
loại phân bón hoá học cần chú ý đến những
điểm sau đây:
- phân bón cần
được bảo quản trong các túi nilông.
Chỗ để phân bón cần thoáng mát, khô ráo,
mái kho không bị dột. Không để chung
phân bón đạm cùng với các loại phân bón khác.
- Cần bón đúng
đặc tính và nhu cầu của cây trồng. Cây
có những đặc tính rất khác nhau. Nhu
cầu của cây đối với N cũng rất khác
nhau. Có cây yêu cầu nhiều N, có cây
yêu cầu ít. Nếu bón N nhiều, vượt quá
yêu cầu của cây, N cũng gây ra những
tác hại đáng kể. Bón đúng yêu cầu của
cây, N phát huy tác dụng rất tốt.
- Cần bón đúng
dạng phân bón theo đặc điểm của cây và của
đất đai. Đối với các loại cây trồng
cạn như: ngô, mía, bông v.v.. bón đạm
nitrat là thích hợp, nhưng đối với lúa
nước nên bón đạm clorua hoặc SA. Đối
với các loại cây họ đậu nên bón đạm
sớm, trước khi nốt sần được hình thành
trên rễ cây. Khi trên rễ cây đã có các
nốt sần, không nên bón đạm, vì đạm
ngăn trở hoạt động cố định đạm từ
không khí của các loài vi khuẩn nốt
sần.
- Cần bón đạm
đúng với đặc điểm của đất:
phân bón có tính
kiềm nên bón cho đất chua. phân bón chua
sinh lý nên bón cho đất kiềm. Đất lầy
thụt, nhiều bùn không cần bón phân bón đạm.
- Cần bón đạm
đúng lúc. Tốt nhất là bón vào thời kỳ
sinh trưởng mạnh nhất của cây.
- Cần bón đạm
đúng liều lượng và cân đối với lân và
kali.
- Bón phân bón đạm
cần lưu ý đến diễn biến của thời tiết.
Không bón lúc mưa to, lúc ruộng vườn
đầy nước.
- Không bón
đạm tập trung vào một lúc, một chỗ, mà
cần chia thành nhiều lần để bón và bón
vãi đều trên mặt đất ở những nơi cần
bón. Không bón đạm quá thừa. Vì khi
thừa đạm, cây phát triển mạnh, dễ đổ
ngã, ra hoa chậm, ít hạt, hạt lép
nhiều, quả dễ rụng, nhiều sâu bệnh,
phẩm chất quả giảm. Tốn tiền mua phân bón
đạm mà không thu được kết quả gì, gây
lãng phí.
- Bón phân bón đạm
cần kết hợp với làm cỏ, xới đất, sục
bùn (đối với lúa).
[sửa]
phân bón lân
Lân có vai trò
quan trọng trong đời sống của cây trồng.
Lân có trong thành phần của hạt nhân tế
bào, rất cần cho việc hình thành các bộ
phận mới của cây. Lân tham gia vào thành
phần các enzim, các prôtêin, tham gia
vào quá trình tổng hợp các axit amin.
Lân kích thích sự phát triển của rễ cây,
làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra
chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây
chống chịu được hạn và ít đổ ngã. Lân
kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi,
thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều.
Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây
đối với các yếu tố không thuận lợi:
chống rét, chống hạn, chịu độ chua của
đất, chống một số loại sâu bệnh hại v.v…
Ở một số loại đất trên nước ta, lân trở
thành yếu tố hạn chế đối với năng suất
cây trồng. Đặc biệt ở hầu hết các loại
đất trồng lúa ở các tỉnh phía Nam. Thiếu
lân không những làm cho năng suất cây
trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của
phân bón đạm. Hiệu suất của phân bón lân khá cao.
Trên một số loại đất ở Tây Nguyên bón 1
kg P2O5 cho hiệu quả thu được 4,3 – 7,5
kg cà phê nhân, 8,5 kg thóc. Ở các vùng
đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của
phân bón lân càng cao hơn, 1 kg P2O5 mang
lại 90 kg thóc, ở mức bón 40 – 60 kg
P2O5/ha. Bón quá nhiều phân bón lân trong
nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị
thiếu một số nguyên tố vi lượng. Vì vậy,
cần bón thêm phân bón vi lượng, nhất là Zn.
[sửa]
Phôtphat nội
địa
Đó là loại bột
mịn, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu
nâu nhạt. Tỷ lệ lân nguyên chất trong
phân bón thay đổi rất nhiều, từ 15% đến 25%.
Loại phân bón thường có trên thị trường có
tỷ lệ là 15 – 18%. Trong phân bón phôtphat
nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở
dạng khó tiêu đối với cây trồng. phân bón có
tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử
chua. Vì lân trong phân bón ở dưới dạng khó
tiêu, cho nên phân bón chỉ dùng có hiệu quả
ở các chân đất chua. Ở các chân ruộng
không chua, hiệu lực của loại phân bón này
thấp; ở loại đất này, loại phân bón này dùng
bón cho cây phân bón xanh có thể phát huy
được hiệu lực. phân bón này chỉ nên dùng để
bón lót, không dùng để bón thúc. Khi sử
dụng có thể trộn với phân bón đạm để bón,
nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không
được để lâu. phân bón này dùng để ủ với phân bón
chuồng rất tốt. phân bón phôtphat nội địa ít
hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể
cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương
đối dễ dàng.
[sửa]
phân bón apatit
Là loại bột mịn,
màu nâu đất hoặc màu xám nâu. Tỷ lệ lân
nguyên chất trong phân bón thay đổi nhiều.
Thường người ta chia thành 3 loại: loại
apatit giàu có trên 38% lân; loại phân bón
apatit trung bình có 17 – 38% lân; loại
phân bón apatit nghèo có dưới 17% lân.
Thường loại apatit giàu được sử dụng để
chế biến thành các loại phân bón lân khác,
còn loại trung bình và loại nghèo mới
được đem nghiền thành bột để bón cho cây.
Phần lớn lân trong phân bón apatit ở dưới
dạng cây khó sử dụng. Apatit có tỷ lệ
vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất.
phân bón này được sử dụng tương tự như
phôtphat nội địa. Sử dụng và bảo quản
phân bón này tương đối dễ dàng vì phân bón ít
hút ẩm và ít biến chất.
[sửa]
Supe lân
Là loại bột mịn
màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc.
Một số trường hợp supe lân được sản xuất
dưới dạng viên. Trong supe lân có 16 –
20% lân nguyên chất. Ngoài ra, trong
phân bón này có chứa một lượng lớn thạch cao.
Trong phân bón còn chứa một lượng khá lớn
axit, vì vậy phân bón có phản ứng chua. phân bón
dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử
dụng. phân bón thường phát huy hiệu quả
nhanh, ít bị rửa trôi. Supe lân có thể
dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được.
phân bón này có thể sử dụng để bón ở các
loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua
đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua
nên bón vôi khử chua trước khi bón supe
lân. Supe lân có thể dùng để ủ với phân bón
chuồng. Nếu supe lân quá chua, cần trung
hoà bớt độ chua trước khi sử dụng. Có
thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit.
Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit
để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%.
Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua
của supe lân thì dùng 10 – 15%, nếu dùng
vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%. phân bón supe lân
thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên
để tăng hiệu lực của phân bón, người ta
thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc
sản xuất thành dạng viên để bón cho cây.
phân bón này có thể dùng để hồ phân bón rễ mạ.
Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ
không cẩn thận phân bón có thể bị nhão và
vón thành từng cục. phân bón có tính axit
nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong
đựng bằng sắt.
[sửa]
Tecmô phôtphat
(phân bón lân nung chảy, lân Văn Điển)
phân bón có dạng
bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có
óng ánh. Tỷ lệ lân nguyên chất trong
tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra
trong phân bón còn có canxi 30% một ít thành
phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có
khi có cả kali. Tecmô phôtphat có phản
ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với
phân bón đạm vì dễ làm cho đạm bị mất. phân bón
này không tan trong nước, nhưng tan được
trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng.
phân bón có thể sử dụng để bón lót hoặc bón
thúc đều tốt. Tecmô phôtphat phát huy
hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì
phân bón có phản ứng kiềm. phân bón sử dụng có
hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo,
đất bạc màu vì phân bón chứa nhiều vôi, có
các nguyên tố vi lượng và một ít kali.
phân bón này thường được bón rải, ít khi bón
tập trung và ít được sản xuất dưới dạng
viên. Không sử dụng tecmô phôtphat để hồ
phần rễ mạ. Tecmô phôtphat ít hút ẩm,
luôn ở trong trạng thái tơi rời và không
làm hỏng dụng cụ đong đựng.
[sửa]
phân bón lân kết
tủa
phân bón có dạng
bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi
bột. phân bón có tỷ lệ lân nguyên chất tương
đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong
thành phần của phân bón có một ít canxi.
phân bón này được sử dụng tương tự như tecmô
phôtphat. phân bón ít hút ẩm cho nên bảo
quản dễ dàng.
[sửa]
phân bón kali
Nhóm phân bón
cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây.
Kali có vai trò chủ yếu trong việc
chuyển hoá năng lượng trong quá trình
đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây.
Kali làm tăng khả năng chống chịu của
cây đối với các tác động không lợi từ
bên ngoài và chống chịu đối với một số
loại bệnh. Kali tạo cho cây cứng chắc,
ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu
hạn, chịu rét. Kali làm tăng phẩm chất
nông sản và góp phần làm tăng năng suất
của cây. Kali làm tăng hàm lượng đường
trong quả làm cho màu sắc quả đẹp tươi,
làm cho hương vị quả thơm và làm tăng
khả năng bảo quản của quả. Kali làm tăng
chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm
lượng đường trong mía. Trên phương diện
khối lượng, cây trồng cần nhiều K hơn N.
Nhưng vì trong đất có tương đối nhiều K
hơn N và P, cho nên người ta ít chú ý
đến việc bón K cho cây. Trong cây K được
dự trữ nhiều ở thân lá, rơm rạ, cho nên
sau khi thu hoạch kali được trả lại cho
đất một lượng lớn. Kali có nhiều trong
nước ngầm, nước tưới, trong đất phù sa
được bồi hàng năm. Vì vậy, việc bón phân bón
kali cho cây không được chú ý đến nhiều.
Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp
càng ngày người ta càng sử dụng nhiều
giống cây trồng có năng suất cao. Những
giống cây trồng này thường hút nhiều K
từ đất, do đó lượng K trong đất không đủ
đáp ứng nhu cầu của cây, vì vậy muốn có
năng suất cao và chất lượng nông sản tốt,
thì phải chú ý bón phân bón kali cho cây.
Mặt khác, các bộ phận thân lá cây, rơm
rạ, v.v.. sau khi thu hoạch sản phẩm
chính của nông nghiệp, hiện nay được sử
dụng nhiều để nuôi trồng nấm, làm vật
liệu độn chuồng, làm chất đốt, v.v.. và
bị đưa ra khỏi đồng ruộng, vì vậy, việc
bón kali cho cây càng trở nên cần thiết.
Những nghiên cứu gần đây của các nhà
khoa học cho thấy trừ đất phù sa sông
Hồng có hàm lượng kali tương đối khá,
còn lại phần lớn các loại đất ở nước ta
đều nghèo kali. Hàm lượng kali ở các
loại đất này thường là dưới 1%. Ở các
loại đất xám, đất cát, đất bạc màu, đất
nhẹ ở miền Trung nước ta, kali có ý
nghĩa rất lớn trong việc làm tăng năng
suất cây trồng. Kali cũng cho kết quả
tốt trên đất xám Đông Nam Bộ. Để sử dụng
hợp lý phân bón kali cần chú ý đến những
điều sau đây:
- Bón kali ở
các loại đất trung tính dễ làm cho đất
trở nên chua. Vì vậy ở các loại đất
trung tính nên kịp thời bón thêm vôi.
- Kali nên bón
kết hợp với các loại phân bón khác.
- Kali có thể
bón thúc bằng cách phun dung dịch lên
lá vào các thời gian cây kết hoa, làm
củ, tạo sợi.
- Có thể bón
tro bếp để thay thế phân bón kali.
- Bón quá
nhiều kali có thể gây tác động xấu lên
rễ cây, làm cây teo rễ. Nếu bón quá
thừa phân bón kali trong nhiều năm, có thể
làm cho mất cân đối với natri, magiê.
Khi xảy ra trường hợp này cần bón bổ
sung các nguyên tố vi lượng magiê,
natri.
Các loại cây có
phản ứng tích cực với phân bón kali là: chè,
mía, thuốc lá, dừa, chuối, khoai, sắn,
bông, đay, v.v..
[sửa]
phân bón clorua
kali
phân bón có dạng
bột màu hồng như muối ớt. Nông dân ở một
số nơi gọi là phân bón muối ớt. Cũng có dạng
clorua kali có màu xám đục hoặc xám
trắng. phân bón được kết tinh thành hạt nhỏ.
Hàm lượng kali nguyên chất trong phân bón là
50 – 60%. Ngoài ra trong phân bón còn có một
ít muối ăn (NaCl). Clorua kali là loại
phân bón chua sinh lý. phân bón này khi để khô
có độ rời tốt, dễ bón. Nhưng nếu để ẩm
phân bón kết dính lại với nhau khó sử dụng.
Hiện nay, phân bón clorua kali được sản xuất
với khối lượng lớn trên thế giới và
chiếm đến 93% tổng lượng phân bón kali.
Cloria kali có thể dùng để bón cho nhiều
loại cây trên nhiều loại đất khác nhau.
Có thể dùng phân bón này để bón lót hoặc bón
thúc. Bón thúc lúc cây sắp ra hoa làm
cho cây cứng cáp, tăng phẩm chất nông
sản. Clorua kali rất thích hợp với cây
dừa vì dừa là cây ưa clo. Không nên dùng
phân bón này để bón vào đất mặn, là loại đất
có nhiều clo, và không bón cho thuốc lá
là loại cây không ưa clo. phân bón này cũng
không nên dùng bón cho một số loài cây
hương liệu, chè, cà phê, vì phân bón ảnh
hưởng đến phẩm chất nông sản.
[sửa]
phân bón sunphat
kali
phân bón có dạng
tinh thể nhỏ, mịn, màu trắng. phân bón dễ
tan trong nước, ít hút ẩm nên ít vón cục.
Hàm lượng kali nguyên chất trong sunphat
kali là 45 – 50%. Ngoài ra trong phân bón
còn chứa lưu huỳnh 18%. phân bón này có thể
sử dụng thích hợp cho nhiều loại cây
trồng. Sử dụng có hiệu quả cao đối với
cây có dầu, rau cải, thuốc lá, chè, cà
phê. Sunphat kali là loại phân bón chua sinh
lý. Sử dụng lâu trên một chân đất có thể
làm tăng độ chua của đất. Không dùng
sunphat kali liên tục nhiều năm trên các
loại đất chua, vì phân bón có thể làm tăng
thêm độ chua của đất.
[sửa]
Một số loại
phân bón kali khác
phân bón kali –
magiê sunphat có dạng bột mịn màu xám.
phân bón có hàm lượng K2O: 20 – 30%; MgO: 5
– 7%; S: 16 – 22%. phân bón này được sử dụng
có hiệu quả trên đất cát nghèo, đất bạc
màu. phân bón “Agripac” của Canada có hàm
lượng K2O là 61%. Đây là loại phân bón khô,
hạt to, không vón cục, dễ bón, thường
được dùng làm nguyên liệu để trộn với
các loại phân bón khác sản xuất ra phân bón
hỗn hợp. Muối kali 40% có dạng muối
trắng kết tinh có lẫn một ít vảy màu
hồng nhạt. Ngoài hàm lượng kali chiếm
40% trong khối lượng phân bón, trong thành
phần của phân bón còn có muối ăn với tỷ lệ
cao hơn muối ăn trong phân bón clorua kali.
phân bón này cần được sử dụng hạn chế trên
các loại đất mặn.
Thuốc trừ sâu bị đưa vào danh sách sản
phẩm nguy hiểm
| |
|
Cần thực hiện
các biện pháp bảo vệ khi phun thuốc
trừ sâu. |
Quyết định này được đưa ra cuối tuần qua
tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về mậu
dịch quốc tế đối với hóa chất độc hại.
Theo đó,
thuốc trừ sâu,
vốn được sử dụng rộng rãi ở châu Á để
bảo vệ lúa và cây bông, có thể gây hại
cho thần kinh trung ương của người và
động vật.
Đến nay, có 26 sản phẩm hóa học dùng
trong nông nghiệp và 5 hóa chất công
nghiệp được đưa vào danh sách hóa chất
nguy hiểm. Theo công ước Rotterdam 1998,
những sản phẩm này phải được kiểm soát
gắt gao và áp dụng thủ tục đồng thuận
thông báo trước (PIC). PIC buộc các nhà
xuất khẩu báo trước cho phía nhập khẩu
về tính năng, cách sử dụng và tiêu chuẩn
nhãn hiệu của sản phẩm trước khi tiến
hành mua bán.
Tuy nhiên, công ước Rotterdam chưa có
hiệu lực vì mới chỉ được 34 quốc gia phê
chuẩn, trong theo quy định, nó phải được
50 nước chấp nhận.
Thuốc thử phát hiện nhanh thuốc trừ sâu
trong rau quả
Phân viện Cơ điện nông nghiệp và sau thu
hoạch TP HCM vừa nghiên cứu thành công
bộ thuốc thử để kiểm tra, phát hiện
nhanh thuốc trừ sâu trong rau quả. Sau
khoảng 60 phút thử, sẽ có màu xuất hiện.
Màu càng nhạt thì lượng thuốc trừ sâu
trong rau quả càng nhiều và ngược lại.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp
Elisa cạnh tranh trực tiếp để phát hiện
nhóm thuốc trừ sâu có gốc cyclodiene (nhóm
thuốc có nhiều nguy cơ gây ngộ độc thực
phẩm và đã bị cấm sử dụng) trong rau quả.
Sau khi cho phản ứng giữa thuốc thử và
mẫu rau, quả có chứa thuốc trừ sâu với
thời gian khoảng 60 phút, màu sẽ xuất
hiện. Màu càng nhạt thì lượng thuốc trừ
sâu trong rau quả càng nhiều và ngược
lại. Riêng nồng độ thuốc trừ sâu sẽ được
xác định bằng cách so sánh mật độ quang
giữa mẫu và thuốc trừ sâu chuẩn. Chi phí
thuốc và hóa chất cho mỗi lần thử khoảng
10.000 đồng.
Cả trường nghỉ học vì mùi thuốc trừ sâu
Hơn 800 học sinh Trường THPT chuyên
Huỳnh Mẫn Đạt, trên đường Võ Thị Sáu,
phường Vĩnh Thanh, thị xã Rạch Giá, tỉnh
Kiên Giang, phải bỏ tiết học sáng ngày
30/10, vì luồng khí khó chịu xộc vào các
phòng học.
Khi nghe các giáo viên báo rằng không
thể tiếp tục giảng dạy được nữa vì mùi
khí ngày càng khó thở, ông hiệu trưởng
Nguyễn Nghĩa Tiệp cũng bắt đầu có cảm
giác chóng mặt. Để bảo đảm sức khỏe học
sinh, ông Tiệp đã thông báo cho các em
nghỉ các tiết học còn lại và báo chính
quyền địa phương. Em Cao Thị Hồng, học
sinh lớp 12, nói: “Phòng học của em ở
trên lầu 3. Ban đầu, các em cảm thấy
không khí như mùi ổi chín rồi dần dần
trở nên khó thở. Một số bạn bị chóng mặt
và nôn mửa nên cô giáo phải cho chúng em
xuống sân để hít thở không khí trong
lành hơn”.
Công an thị xã Rạch Giá đã phát hiện một
hộ dân gần nhà trường dùng thuốc trừ sâu
với liều lượng lớn để phun cây cảnh nên
dẫn đến tình trạng trên. Chính quyền địa
phương đã làm việc với chủ hộ và yêu cầu
tạm ngưng việc làm này.
Người dân Hà Tĩnh nghẹt thở vì khói
thuốc trừ sâu
Chiều 22/11, hàng nghìn người dân TP Hà
Tĩnh đã bị "nghẹt thở" trong nhiều giờ
do Chi cục bảo vệ thực vật tiêu hủy bao
bì đựng thuốc trừ sâu nhưng "quên" không
báo tin cho những cơ quan và người dân
xung quanh để lánh nạn.
Nhiều người dân ở khu vực thuộc phường
Trần Phú, Bắc Hà và Tân Giang ngửi thấy
một mùi hôi nồng nặc và khó chịu. Nguyên
nhân là Chi cục bảo vệ thực vật Hà Tĩnh
đã tổ chức tiêu hủy bao bì đựng hai tấn
thuốc trừ sâu tại cơ quan đóng giữa
trung tâm thành phố.
Đại úy Nguyễn Xuân Lộc, thuộc Đội Cảnh
sát bảo vệ mục tiêu cho biết, chi cục
bảo vệ thực vật đã chất vỏ bao bì đựng
thuốc trừ sâu thành một đống rất lớn rồi
châm lửa đốt. Ngọn lửa bốc cao vượt quá
tầm ngôi nhà 2 tầng, có nhiều tiếng nổ,
khói nghi ngút bốc lên khiến những người
dân khu vực xung quanh đều bỏ chạy.
Theo Đại úy Lộc, Chi cục bảo vệ thực vật
đã báo động cho người của cơ quan họ sơ
tán, vậy mà không báo tin cho những cơ
quan và người dân xung quanh để lánh nạn.
Nhật phát hiện thuốc trừ sâu trong đậu
xanh Trung Quốc
Nhà chức trách Nhật Bản vừa phát hiện
một loại đậu xanh đông lạnh nhập khẩu từ
Trung Quốc có chứa dư lượng thuốc trừ
sâu đậm đặc gần như ở dạng nguyên chất,
cao hơn rất nhiều so với mức cho phép.
Văn phòng Y tế công ở khu vực Hachioji
cho biết dư lượng thuốc trừ sâu
organophosphate trong đậu xanh này là
6.900 ppm, gấp 34.500 lần so với tiêu
chuẩn cho phép của Nhật Bản. Một phụ nữ
nước này đã phải vào viện cấp cứu sau
khi ăn sản phẩm nói trên. Dư lượng thuốc
trừ sâu đậm đặc đã khiến miệng nạn nhân
gần như bị tê liệt.
Theo kết quả điều tra ban đầu, cuối
tháng 7 vừa qua, Công ty thực phẩm
Nichirei, trụ sở ở Tokyo, đã nhập khẩu
2.538 thùng đậu xanh (mỗi thùng gồm 20
túi) từ một công ty sản xuất thực phẩm ở
tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc). Hiện sản
phẩm trên đã bị loại ra khỏi 179 cửa
hàng, trong đó có những cửa hàng thuộc
hệ thống siêu thị ở Nhật Bản.
Trong năm 2007, các công ty thực phẩm
Nhật đã nhập 265 tấn đậu xanh từ công ty
thực phẩm nói trên của Trung Quốc.
Trước đó khoảng
một tuần, cơ quan chức năng Nhật Bản
cũng đã phát hiện một số độc tố như
toluene và ethyl acetate trong sản phẩm
mứt đậu mang nhãn hiệu Tsubuan, cũng
nhập khẩu từ Trung Quốc.
Thuốc trừ sâu 'ngọt'
Vũ
khí mới nhất để chống lại các loài sinh
vật gây hại, vừa tự nhiên, vừa an toàn
cho con người, lại là thứ đồ ngọt ngào
nhất mà chúng ta từng biết - đường!
Đường không phải quá ngọt ngào đối với
một số loài côn trùng và gặm nhấm. Mặc
dù an toàn với con người, song nó lại có
thể loại trừ sâu hại khá hiệu quả.
Tất nhiên, đó không phải là thứ đường
quen thuộc trong lọ nhà bạn. Các nhà
khoa học tại Bộ Nông nghiệp Mỹ đã bổ
sung một nhóm chất hoá học (một loại
este) vào đường mía và dùng nó để phun
cho cây cối giống như một loại thuốc trừ
sâu loãng.
"Khi phun, nó phủ lên bề mặt lá một dung
dịch có thể thấm vào khí quản của côn
trùng và khiến chúng ngạt thở, đặc biệt
là những loài bọ nhỏ", Gary Puterka từ
Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp của Bộ
Nông nghiệp Mỹ cho biết. "Một cơ chế
khác nhắm vào việc làm đứt gãy lớp vỏ
cutin của côn trùng, khiến chúng mất
nước nhanh chóng".
Đường tổng hợp giết sâu hại từ bên trong
ra ngoài. Một khi đã xâm nhập vào những
lỗ nhỏ bên trong lớp vỏ cứng của côn
trùng (bộ xương bảo vệ ngoài), este bổ
sung trong đường sẽ khiến cho côn trùng
mất nước, co nhúm lại và chết.
Mặc dù gây hại cho côn trùng, loại đường
này vẫn rất an toàn cho người, bởi vì
hàm lượng đủ để giết một con sâu quá nhỏ
để có thể ảnh hưởng đến chúng ta. Ngoài
ra, dung dịch cũng dễ dàng được rửa trôi
khỏi thực vật và thậm chí còn được dùng
như một tác nhân làm mịn trong một số
loại bánh chocolate.
Loại đường này cũng an toàn cho môi
trường và không tạo ra phế thải hôi thối
giống như một số loại thuốc trừ sâu hoá
học. "Nó chỉ hoạt động trong trạng thái
ướt. Nó khô đi và diệt sâu nhanh chóng,
sau đó bị phân rã thành những phần nhỏ
hơn và trở nên bất hoạt", Puterka nói.
Có thể không lâu nữa, thuốc trừ sâu gốc
đường sẽ có mặt trong bếp của bạn hoặc
trong các thiết bị dùng để diệt sâu bọ
như gián hay ong bắp cày. Những ứng dụng
này đang được xem xét tại Cơ quan bảo vệ
môi trường Mỹ.
Thuốc trừ sâu có thể khiến đàn ông vô
sinh
| |
|
Nông dân đang
phun thuốc trừ sâu. |
Một nghiên cứu tại Argentina do các nhà
khoa học Pháp và Argentina phối hợp thực
hiện cho thấy thuốc trừ sâu, diệt cỏ và
diệt nấm làm giảm đáng kể lượng tinh
trùng ở đàn ông. Tỷ lệ tinh trùng của
những người tiếp xúc nhiều với các loại
thuốc nói trên nằm dưới mức có thể sinh
sản.
Theo bác sĩ Multigner, một thành viên
của nhóm nghiên cứu, thủ phạm gây ra
tình trạng này có thể là thuốc trừ sâu.
Một hố chôn thuốc
trừ sâu bị san ủi gây ô nhiễm nặng
Gia đình ông Vũ
Văn Đạo san ủi mặt bằng xây nhà trên khu
đất rộng khoảng 1.000 m2 thuộc tổ 35,
phường Tân Thịnh, Thái Nguyên, đã vấp
phải một bãi chôn lấp thuốc bảo vệ thực
vật, khiến mùi thuốc trừ sâu phát tán
nồng nặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống nhân dân trong vùng.
Sự việc xảy ra hôm
25/9. Nhiều hộ dân đã di dời khỏi nơi cư
trú, một số học sinh Trường PTTH Ngô
Quyền (đơn vị sát nơi phát ra mùi hôi)
đã phải nghỉ học.
Bước đầu, chính
quyền phường sở tại đã cho che bạt toàn
bộ khu đất có mùi thuốc; đồng thời, có
văn bản kiến nghị với các cơ quan chức
năng giúp phường xử lý sự cố ô nhiễm này.
Tuy vậy, đến nay, UBND thành phố Thái
Nguyên vẫn chưa cử cán bộ đến nắm tình
hình và có biện pháp giải quyết triệt để.
Nhật phát hiện thuốc trừ sâu trong mỳ ăn
liền
| |
|
Ảnh minh họa:
Getty Image. |
Nhà chế biến thực phẩm lớn của Nhật vừa
cho thu hồi hàng nghìn cốc mỳ ăn liền
sau khi phát hiện thuốc trừ sâu trong
một số mẫu sản phẩm của họ.
Giới chức cho biết một phụ nữ 67 tuổi
sống ở ngoại ô Tokyo bị nôn mửa và tê
lưỡi sau khi ăn mỳ cốc của hãng Nissin
hôm 23/10. Trong quá trình kiểm tra, các
nhân viên y tế phát hiện chất hóa học sử
dụng trong thuốc diệt sâu bọ nhưng không
thấy có dấu hiệu gì bất thường khác ở
cốc mỳ mà nạn nhân đã ăn.
Nissin ngay sau đó tuyên bố thu hồi
500.000 cốc mỳ ăn liền sản xuất cùng
ngày và cùng dây chuyền. Phần lớn các
sản phẩm này bày bán ở Tokyo và một số
khu vực lân cận và đã được tiêu thụ khá
nhiều.
Chủ tịch Nissin, Susumu Nakagawa, lên
tiếng xin lỗi người tiêu dùng trong một
cuộc họp báo cuối tuần này nhưng phủ
nhận khả năng nhiễm độc xảy ra tại các
nhà máy với lý do họ chưa bao giờ dự trữ
thuốc trừ sâu và luôn có 7 camera an
ninh giám sát chặt chẽ quá trình sản
xuất.
Những lo ngại xung quanh món mỳ ăn liền
tăng lên sau khi công ty thực phẩm Myojo
hôm 24/10 cũng tuyên bố phát hiện một số
sản phẩm nhiễm các chất hóa học sử dụng
trong thuốc chống rệp. Quan chức phụ
trách vấn đề y tế ở Yososuka, tây nam
Tokyo, cho biết một khách hàng nam phát
hiện mùi hóa chất khi đổ nước sôi vào
cốc mỳ của hãng này.
|
Trình bày trang 1 đến 4 (trong 25 sản phẩm) |
Trang: 1 2 3 4 [>>] [>] |
|